Những ngày đầu đến Mỹ – Kỳ 1

Ô hay tại sao ta sống chốn này,

Quay cuồng mãi hoài, có gì vui.

Giã từ quê hương Việt Nam ngạo nghễ 

Trong cuộc đời, nhiều lúc mình không thể cưỡng lại được số phận, nhất là phải rời bỏ quê hương để làm lại từ đầu ở tuổi quá ba mươi. Ngày đi Mỹ, lòng mình ngổn ngang trăm thứ. Có lẽ các bạn TCV1986 qua Mỹ vào thập niên 80 háo hức lắm. Ngày đó, Việt Nam mình còn nghèo quá và sự kỳ thị về chính trị rất nặng nề, các bạn đi Mỹ như là sự giải thoát. Đi vì chính trị ư? Có lẽ là không. “Cái đêm hôm ấy đêm gì” đã lùi xa lắm rồi… Còn mình…Dễ chừng mười bảy năm chẵn… Vì kinh tế ư? Lại càng không.  Hay là “đi tìm cái tôi đã mất” ? Có mất gì đâu mà tìm nhỉ. Đơn giản mình chỉ nghĩ, thử xem sống cuộc đời thứ hai ở xứ Mỹ sẽ ra sao, xem như một ván bài mà mình cá cược với cuộc đời.

Ấn tượng đầu tiên của mình về nước Mỹ là lần phỏng vấn ngay tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. ĐSQ là hình ảnh đại diện nước Mỹ mà. Nhìn vào khung cửa sổ, một em tóc vàng, đẹp, chừng ba mươi tuổi. Em lướt nhìn hồ sơ, chợt hỏi bằng tiếng Anh

-Mày là Bác sĩ hả ? Té ra tụi này không hề đọc hồ sơ trước.

-Vâng, tao là bác sĩ.

-Mày nói được tiếng Anh chứ?

-Tất nhiên rồi.

Em Mỹ nhìn qua cô thông dịch viên:

-Trường hợp này, không cần thông dịch.

Em thông dịch viên đứng xớ rớ không biết làm gì liền bị quát.

-Tao không cần mày, ra phía sau đi.

Dân đại sứ quán gì mà trịch thượng quá. Một thoáng nghĩ suy trong đầu mình lúc ấy. Vậy có phải kỳ thị chăng? Tụi Mỹ trắng hầu hết đều kỳ thị dân châu Á mình – như ở Việt Nam người Kinh chê người Thượng vậy. Đến Mỹ rồi, câu hỏi vô tình đảo chiều. Có phải người Việt mình kỳ thị hơn người Mỹ không nhỉ? Vì ở thành thị làm gì có người Thượng sống chung người Kinh. Trong khi ở Mỹ, người Việt sống chung với người Mỹ rất là thoải mái. Tất nhiên nên tránh xa các vùng thôn quê (countryside) nơi mà sự kỳ thị lên đến tột đỉnh. Ở đó chỉ có sắc dân da trắng mà thôi. Tuyệt nhiên chẳng có da vàng, đen, đỏ.

Hôm sau mình quay lại lấy visa, vô tình gặp em thông dịch. Em cười nhẹ nhàng. “Bác sĩ ở đây cho sướng, đi làm gì cho khổ.” Hic.

Đêm trước khi lên máy bay, cả nhóm tcv1986 ở Sài Gòn ăn nhậu quậy phá một đêm ra trò. Coi như làm thượng lưu lần cuối chứ qua bển, biết bao giờ đứng vào tầng lớp này…

Đêm 24 tháng 4 năm 2003. Đứng trong sân bay TSN, mình bắt tay từng người bạn thân để rời xa đất nước. Này là Tâm mập, Nam Anh, Bình hanquoc, Tấn Binh, Quang Tuấn, Xuân Thảo, Duy Anh, Sơn oxy, Tuấn con đực..và rất nhiều bạn học chung trường Y…Cuộc chia tay nào cũng xao xuyến, cảm động. Lúc đó mình chợt nghĩ không biết bao giờ quay lại Việt Nam nhỉ. Thế mà một năm sau mình đã có mặt tại Sài gòn.

Tuần đầu đến Mỹ

Chiếc máy bay Boeing chao cánh một vòng trên bầu trời thành phố Minneapolis trước khi đáp xuống sân bay quốc tế MSP của cùng Trung Tây Hoa Kỳ. Sao mà nhiều cây xanh và hồ quá. Đúng là xứ vạn hồ. Giây phút gặp lại đại gia đình sau mười bảy năm xa cách bồi hồi khó tả như giây phút chia tay bạn bè hai ngày trước đó ở Sài Gòn. Cả nhà ai cũng hạnh phúc, riêng Mẹ mình nước mắt giọt dài giọt ngắn. Ba mình phán ngay một câu, Biết chọn ngày đi quá ha, trước 30/4 một tuần. Mình chẳng bao giờ nghĩ ngày này ngày nọ. Khác với mấy ông già, ngày nào cũng nhớ.

Cảm giác đêm đầu tiên ở Mỹ lạ lắm. Ăn cơm xong, 7 giờ tối mà trời còn rất sáng. Mùa hè, trời vẫn sáng đến tận 9 giờ đêm. Ngồi sau vườn ngắm bãi cỏ xanh rì, những chú sóc nhởn nhơ qua lại chẳng hề biết sợ người. Xung quanh nhà bao bọc bởi những cây cổ thụ chừng vài chục tuổi. Xa hơn, thấp thoáng vài chú nai đang đi lững thững trong công viên. Sao mà bình yên quá. Khác xa cái ồn ào náo nhiệt ở quê mình. Miền Bắc nước Mỹ là vậy, nhiều cây xanh và thật yên bình (chứ không ồn ào và ít cây như ở miền Tây Nam).  Đêm đó vì ngược chênh lệch múi giờ, không ngủ được, mình đi dạo quanh nhà. Sau này, ở nhà lớn hơn đẹp hơn, mình vẫn không sao quên được căn nhà gỗ ấm cúng ở miền Bắc. Mình thích nhất tầng hầm (basement) – ít khi nào thấy ở xứ mình. Mùa hè mát, mùa đông ấm áp. Ngồi trong phòng khách, nhìn qua khung cửa kính lớn, một vạt cỏ xanh bao quanh hết căn nhà. Sau này chuyển xuốngFlorida, bán căn nhà cũ, tiếc thật.

Thấm thoát hết một tuần đầu ở Mỹ. Ngày thứ bảy, Ba đưa mình đến nhà bác T. – nguyên tỉnh trưởng tỉnh Quảng Tín trước 75. Từ ngày di tản đến giờ, Bác vẫn chưa về lại cố hương. Có lẽ Bác muốn biết một người Việt Nam mới qua như thế nào. Ôm chặt mình trong vòng tay, ấm áp giọng người Sơn Tây:

– Chúc mừng cháu đã đến được bến bờ tự do.

Mình hơi ngớ người chừng vài giây. Bao nhiêu năm nay ở Việt Nam có khi nào mà thắc mắc tự do là gì đâu nhỉ. Nhỏ đi học, chỉ biết tự do là hết ách nô lệ, được ăn, được cười, được đi chơi, được đi làm…chỉ vậy. Tối hôm đó về nhà, lục tung bộ từ điển bách khoa toàn thư của Mỹ, lướt net. Trời, định nghĩa về tự do của tụi Tây to lớn quá. Mà thôi, không nói chuyện chính trị ở đây. Vì suy cho cùng, chính trị cũng chỉ là một canh bạc mà thôi.

Trong nhà rất đông các cựu sĩ quan VNCH người Tam Kỳ. Ai cũng hồ hởi hỏi thăm và nhìn mình từ đầu đến chân. Vợ của bác chủ nhà phán ngay một câu:

– Nhìn con đâu khác gì người ở Mỹ.

À, các bác đang phán xét mình đây. Người Việt là vậy, luôn đánh giá người khác qua bề ngoài hoặc tiền bạc. Chiếc áo cà sa không làm nên thầy tu. Nhưng không mặc áo cà sa, làm sao biết đó là thầy tu nhỉ. Mà  đánh giá người đời qua tiền bạc có đúng không. Nếu anh có tài mà nghèo, thiên hạ có chấp nhận anh có tài hay nói anh bất tài. Chỉ có một người nghèo mà khắp thiên hạ đều chấp nhận là thiên tài: triết gia người Hy Lạp Socrates.

(Đón đọc kỳ 2 tuần sau)

Thái Bảo

Tình qua cửa Phật (lá thư nước Mỹ kỳ 1)

Hôm nay mình khai trương chuyên mục mới Lá thư nước Mỹ, nhưng trong lòng lo quá. Không biết các bạn TKUS có gởi bài về cho blog không? Hay mình phải gò lưng mà viết mỗi tuần thì chết hix. Số đầu tiên, trình làng truyện ngắn “Tình qua cửa Phật” mang đậm màu sắc Phật giáo. Một câu chuyện với happy ending, trải dài từ nước Mỹ qua Pháp, vòng đến Việt Nam…Mong các bạn TKUS đọc và ủng hộ bài cho mục mới này. Trân trọng.

Tình qua cửa Phật

Truyện ngắn của THÁI BẢO

to my beloved  NT & KT

Phật lịch năm 2548.

Mười ngón tay đan lẫn vào nhau, hai ngón cái ghì chặt nhén nang, chàng quì gối trên sàn gạch lạnh ngắt trong chánh điện. Lưng thẳng, mắt nhìn không chớp tượng Bụt. Người ta khấn vái thường nhắm mắt. Chàng thích làm ngược lại. Đối với chàng, khấn mà nhắm mắt còn gì linh thiêng nữa. Làn khói từ nén nhang bốc theo chiều thẳng đứng lên trần nhà cao vút. Bỗng dưng làn khói đổi chiều qua bên trái. Một thoáng suy diễn trong đầu chàng. Hồn ai hiện về chăng? Không, chàng thầm nghĩ, khấn xong đã.

Nammô a di đà Phật. Từ trước đến giờ, con chưa bao giờ nguyện điều gì cho riêng con cả. Nay con chỉ cầu một điều nhỏ nhặt: Mong sao cho con gặp một nửa còn lại của con.

Chàng bình thản cắm nén nhang vào lư đồng. Từ lúc làn khói nhang đổi chiều cho đến khi khấn xong là bảy giây mà làn khói vẫn còn lay động hướng trái. Chánh điện chiều nay đóng cửa kín. Ắt phải có người đi từ phía sau bên phải. Chống tay đứng dậy, chàng ngạc nhiên. Thầy nhẹ nhàng bước đến với khuôn mặt hiền hậu, hai vành tai thật to.

– Dạ thưa Thầy Thích Nhất Hạnh. Con không ngờ được diện kiến Thầy ngay chánh điện này.

– Ta biết con vào chánh điện Làng Mai ba buổi chiều liên tục. Con chỉ ngồi đó không nói điều gì. Mọi người đến đây đều muốn gặp ta. Con thì không. Lạ thật.

– Dạ thưa Thầy. Con không dám làm phiền Thầy. Vả lại, trong kinh Bụt có nói gặp nhau là cái duyên mà Thầy…

– Vậy con có muốn dùng Thiền Trà với ta không?

Chàng thoăn thoắt bước theo Thầy qua những lối đi rải đầy sỏi trắng tinh khiết như những con đường dẫn đến chánh niệm. Hai bên đường, sao mà nhiều cây mận tây quá. Đầu tháng Hai, trời se lạnh, cây mận bắt đầu nở những nụ hàm tiếu. Thoạt nhìn những nụ hoa năm cánh màu trắng y chang hoa mai. Hèn gì có tên gọi Làng Mai.

Cánh cửa gỗ màu nâu khép hờ, chàng bước vào, thoáng chút bối rối. Khoảng chục thiền tăng đang ngồi im lặng. Một trà giả đang đem trà đến cho từng người. Mười lăm phút đầu tiên uống trà trong im lặng. Ai muốn thêm trà cứ chắp tay theo hình búp sen. Sau đó là những phút tâm sự sẻ chia những khổ đau.

– Mối lương duyên nào đưa con đến đây vậy?

– Dạ, con đến từ Hoa Kỳ. Con qua Pháp thăm chú ởBordeaux, rồi đi xe điện vượt 71 cây số đến Làng Mai.

– Vậy làm sao con biết Làng Mai.

– Đó là một chuyện dài, thưa Thầy.

Hằng ngày, chàng xem tivi thấy những cái chết đang xảy ra trên thế giới. Không ngờ một ngày nọ, cái chết đã tìm đến nhà chàng. Trong cơn đau khổ hoảng loạn, chàng đã trốn chạy sự thật. Và chàng may mắn gặp giáo sư Thuận qua người bạn thân. Sau một ngày không ngủ, nghiền ngẫm cuốn  “Cái vô hạn trong lòng bàn tay”, chàng đã bị đạo Bụt mê hoặc (hay chàng có chút lương duyên nào đó với tôn giáo này?).

Nghe Mẹ chàng kể lại. Lúc còn nhỏ, chàng sống cùng ông Ngoại. Ông là một người tu hành ăn chay trường tại gia. Ngày trước, Ngoại là một trong những quan lại cuối cùng của triều Nguyễn – trong bộ Lễ. Trẻ ham chơi, trong một canh bạc khét tiếng kinh thành Huế, Ngoại đã mất tất cả vườn tược. Như được thức tỉnh, Ngoại ăn chay, mặc áo nâu, niệm kinh, tụng Bụt đến khi qua đời. Lúc chàng một hai tuổi, Ngoại ru chàng ngủ bằng tiếng kinh kệ. Có lẽ chàng còn nặng với cõi trần nên chưa ngộ sớm. Sách kinh Phật quá cao siêu, không dễ áp dụng vào đời thường, đã hướng chàng đến với Đạo Bụt làng Mai.

– Thưa Thầy. Sau ngày người thân con qua đời, con mất phương hướng như là mất chánh niệm vậy. Cả năm nay con luôn nằm mơ người thân con hiện về. Người về yên lặng, ngồi một góc trên bộ salon, tóc râu dài xồm xòm, với bộ áo quần người thích nhất. Cả nhà đều mơ giống như vậy. Con không tin người thân con chưa siêu thoát cõi trần.

– Con à. Lúc nhỏ, ta đã trải qua một thời đau khổ như con khi Mẹ ta qua đời. Ta mơ thấy Mẹ cả một năm trời. Nhiều đêm đi trong ánh trăng, tưởng như có Mẹ đang dõi theo dấu chân ta. Ánh trăng lấp lánh qua những chiếc lá vàng trên lối đi như là dấu hiệu của Mẹ thầm báo ta rằng Mẹ vẫn còn đây bên cạnh con. Bây giờ con đã biết thiền và ăn chay tám ngày mỗi tháng, vậy là con đã ngộ rồi. Con biết không, rất nhiều người đi tu nhưng đâu phải ai cũng thành công. Bỏ đươc sân si, rượu chè, sống bình yên trong chánh niệm, đó là điều ta muốn truyền đạt cho các thiền sinh.

– Dạ, con học cách thiền của thầy qua sách và video, nhưng con muốn thực hành thực sự, con mới đến đây. Bây giờ con mới hiểu hết thế nào là “an lạc trong từng bước chân”, là “hạnh phúc trong tự tại”.

– Đúng đó con, thiền bất cứ khi nào có thể. Cuộc sống người trần rất bon chen, nhưng chúng ta vẫn có giây phút thảnh thơi để thiền. Chỉ cần hít vào thở ra từ tốn để cảm nhận rằng con đang tồn tại và hạnh phúc. Mỗi buổi sáng, ta đánh răng và cảm thấy hạnh phúc vì từng tuổi này ta vẫn còn răng để đánh. Hạnh phúc vốn giản đơn mà con. À, con đang cầu nguyện gặp người bạn trăm năm hả. Ta có lời khuyên rằng con nên tìm người con gái nào đã giác ngộ như con. Lúc bước vào con có thấy một cô gái nhẹ nhàng đi về không. Biết đâu là ý trung nhân của con đó.

Chàng thầm nghĩ làm sao mà có duyên gặp được người con gái đó. Chàng đang ở Mỹ, còn cô gái vừa bước ra khỏi làng Mai, đất Pháp. Ở hải ngoại này, tìm được người vừa ý rất khó, nay phải tìm người đã giác ngộ đạo Bụt, thật giống hái sao trên trời.

*

Phật lịch năm 2553.

Năm năm dài đằng đẵng sau ngày gặp Thiền sư, chàng vẫn chờ đợi ý trung nhân.

Duyên chưa đến.

Rồi, duyên đến.

Chàng gặp nàng.

Thằng bạn làm mai hỏi chàng thấy hình nàng qua E-mail ra sao. Nàng lai Pháp. Mũi cao, mắt to, môi mỏng, da trắng. “Chẳng có gì ấn tượng như gái Việt.” Thằng bạn la làng. Vậy mà mày nói không ấn tượng. Thì gái Tây, em nào cũng giống nhau mà. Ông ơi già rồi mà còn kén cựa. Vài năm nữa ai mà lấy ông.

Ngày đầu gặp nhau, chàng ngạc nhiên khi biết nàng thờ tượng Bụt ngay trong nhà. Ở xứ Mỹ này, con gái ngoan đạo hiếm lắm.

Bỗng dưng ngày nọ, sau một năm yêu nhau, nàng hỏi chàng có muốn gặp ba mẹ nàng không. Nàng đang ởTexas, ba mẹ làm ăn tận Newyork. Vậy là nàng có ý góp gạo thổi cơm rồi. OK, anh sẽ bay lên Newyork ngay. Không, ba mẹ em mới về ViệtNam. Vì công việc làm ăn, ba mẹ nàng ở Newyork sáu tháng, rồi Sài Gòn sáu tháng. Chàng biết ngay đây là phép thử lần cuối. Lâu nay ba mẹ ở Newyork mà chẳng hề cho chàng gặp mặt. Chàng lấy phép năm ngày về Việt Nam, hai ngày về, một ngày ở Sài Gòn, và hai ngày qua lại Mỹ. Chàng về âm thầm. Ngồi từ sân bay về khách sạn mà lòng chàng lâng lâng khó tả. Vượt cả đại dương về Sài Gòn gặp cha mẹ vợ tương lai dù cả ba người đang sinh sống tại Mỹ. Con đường chàng đi bây giờ – chàng thường gọi “đường chánh niệm” -phải có chút gồ ghề chứ. Nhìn sang bên kia đường, những hình ảnh của chàng ngày xưa hiện về, hoài niệm, mời gọi chàng các cuộc chơi rã rời bất tận. Không, chàng nghiêm mặt, tao không muốn đi con đường hoài niệm nữa. Tao muốn giã từ cảnh sống độc thân. Mày biết đó, chàng nói với chính chàng ngày xưa, cơ hội tao gặp nàng là duy nhất. Tao không muốn mất nàng. Đi chơi một tối thôi mà. Em xinh tươi vẫn chờ đợi mày đó. Vậy mày đi với em ấy. Ủa, tao là ngày xưa của mày làm sao tao đi được. Vậy mày đi chơi với em ấy ngày xưa. Chà, mày chê con đường hoài niệm quá ta, con đường nào cũng một con đường. Không chê chút nào. Đường hoài niệm rất đẹp, nhưng là con đường của kẻ độc thân. Bây giờ đường chánh niệm và đường hoài niệm đã là hai đường thẳng song song.

Hội kiến cha mẹ nàng xong, chàng thẳng tiến đến chùa bà Ấn  độ ở đường Nguyễn Thông cho đúng Ngọ. Nàng khuyên chàng có khấn xin gì, nên đến chùa này. “Chứ anh mà đến chùa Thiên Mụ cầu cho tình yêu là tong ngay.”

Nắng Sài Gòn giữa trưa hè oi bức vô cùng vẫn không làm chàng khó chịu. Nhiệt độ bên trong chùa bà thấp lạ thường, có lẽ tường xây khá dày, ngăn cái nóng đến kinh người dừng lại ngoài chùa. Bên trong, dày đặc các bức tượng và những dòng chữ tượng hình rắm rối. Chàng chỉ để ý đến tượng ông và tượng bà mà thôi. Trước tượng bà, chàng mở phone gọi cho nàng còn thức tận ở Texas. “Anh ơi, anh để phone ngay trong hốc tường để em khấn nguyện nha.” Đến phiên chàng trước tượng ông, chàng cầm phone, nàng đang lắng nghe phía bên kia địa cầu. “Em có đồng ý lấy anh không?” Ba giây im lặng. Nàng hơi choáng. Chưa ai cầu hôn qua điện thoại như chàng, mà ngay trong chùa nữa chứ. Nhưng nàng tin đây là lời cầu hôn thật lòng nhất. Trước tượng Bụt mà. Tất nhiên nàng phải đồng ý rồi. Một giây sau, điện thoại nàng rung lên, báo hiệu có e-mail mới. Nàng mở e-mail, hình một chiếc nhẫn cưới tuyệt hảo lấp lánh. Nàng lại choáng lần nữa. Có ai trao nhẫn cầu hôn qua e-mail không nhỉ. Nàng tủm tỉm cười hạnh phúc. Đây là chiếc nhẫn kim cương Mẹ chàng mua từ lâu, để dành cho con dâu tương lai. Cầu hôn xong, chàng cẩn thận gói lộc – những nụ hoa lài tại chùa – trong bao nilon. Về đến Mỹ, chàng mua ngay một bình pha lê, hút chân không, thả từng nụ hoa lài vào trong và nút chai cẩn thận.

*

Bây giờ chiếc bình dấu kỹ trong tầng hầm tại kinh độ /vĩ độ: 29° 39′ 5″ N / 82° 19′ 30″ W. Chàng mong rằng sau này, con của chàng và nàng sẽ thích thú khi thấy những hoa lài này như minh chứng một lời cầu hôn lạ lùng.

 Bahamas, tháng 5, 2012

 T.B

Chú thích:
1/ Giáo sư Thuận: GSTS Thiên văn học Trịnh Xuân Thuận, bạn thân của TS Nguyễn Ngọc Thùy (cựu học sinh Phan Bội Châu 1986 Tam Kỳ)

2/ Bụt nghĩa là Phật, cách gọi tên trong Đạo Bụt làng Mai của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Đón đọc Lá thư nước Mỹ kỳ 2 “Những ngày đầu tôi đến Mỹ”.