Ly cafe SAIGON buổi sáng !

Ly cafe SAIGON buổi sáng !

Tôi trở lại Saigon vào một ngày giữa mùa mưa năm nay, cũng qua đây xin một  lời về Saigon nhớ, Saigon thật là đơn giản chỉ có hai mùa mưa và nắng, nhưng cuộc sống quả là quá đa âm, đa thanh, đa sắc và đa hình dáng yêu… như Saigon vốn có. Tôi dù là người Quảng Nam, đã có gần hai mươi năm sống ở Saigon, ngày trở lại đây, mới vừa cầm bút là một thoáng Saigon lại hiện về trong tôi….chênh chao nhớ.
Về đến nhà, nghe tin bà Tư tuổi đã bảy lăm, vừa qua bị bệnh nặng nên bà đã đi…. xa , tôi cứ miên man trải dài theo dòng ký ức cho những buổi sáng Café, nơi mới đây bà còn bán café hằng ngày từ buổi sớm tinh sương cho người giàu sang, cũng như người nghèo khó. Có lẽ điều tôi nghĩ về bà, về café Saigon hay đến một chút kỷ niệm cũng không bao giờ rơi rớt mất dọc trên con đường dài từ Quảng Nam đến Saigon đã đi qua . Dẫu vậy, vẫn có chút buồn khi trở lại “chốn xưa lối cũ”, khi hoài niệm về bà Tư, về ly café bà thường bán, tôi cũng chỉ còn lại là điều…. đã qua khi không còn gặp lại bà Tư trên cõi đời này nữa….
Quán cà phê bà Tư ngay ngã ba đường vào nhà tôi. Đã già rồi, không cần lãi nhiều, bà đã bán giá phải chăng nên quán luôn luôn đông khách. Quán mở từ tờ mờ sáng. Sớm nhất là cánh chạy xe ôm, có người thức suốt cả đêm qua, có người bắt đầu phiên chạy sáng, là những ông cụ già khó ngủ, những bà bán rau bán quả, những người chòm xóm quanh đây. Hoặc những khách thập phương xa lỡ bước, đời đã phiêu dạt trôi đi ngàn hướng, là những “tay chơi chân chất”, chửi thề giọng Nam nghe không dung tục, vời cách gọi và uống cafe nghe ngược đời mà gần gũi. v.v.v Đặc điểm của quán của bà là vậy, cùng với bao nhiêu xúc cảm sau một đêm lắng đọng là của bấy nhiêu con người tụ tập nơi quán nhỏ của bà mỗi sáng.

Saigon thủ phủ Cafe và báo chí.

Nói đến Saigon không ở nơi đâu như ở xứ này, phải nói người người uống café với những nơi giá cao ngất ngưỡng, nhưng lại có những nơi giá bán như để ….cho không!. Quán của bà Tư khách là những người chạy xe ôm đến để có chút yên bình, tĩnh lặng sau một đêm cày ải với mưa sương đưa rước khách. Những bà má bán rau chợ đầu mối, người đã trót mang, trót chịu cho cuộc đời cảnh mua bán trong đêm để cho kịp những phiên chợ lẻ buổi sáng, đến uống café nghĩ ngơi. Còn người “khách phương xa” kia lại muốn tận hưởng cái thú cô độc “cafe một mình”, tìm đến quán bà sau một ngày dài hôm qua ngạo nghễ đứng giữa cái vòng mưu sinh của đất Sài thành xôn xao tấp nập. Người Saigon thật là đơn giản và phóng khoáng, có thể họ không biết nhau, nhưng đến đây họ có thể tâm tình về những mối lo toan của đời thường, về những chuyện thời sự hôm nay, hay cũng chỉ đơn giản là để được uống cà phê và nói chuyện cùng nhau, để thấy những năm tháng của đời người đã đi qua không là vô nghĩa. Nhấm nháp vị đắng cafe mà họ tin là giống hệt như cuộc đời bao quanh họ – cuộc đời của chính họ. Còn một vài trong số đó, mới sáng sớm lại thích trầm tư  suy tưởng và chiêm nghiệm về những thứ mà họ tin được gọi là triết lý cuộc đời sau những trải nghiệm của bản thân (!?).
Chừng đến bảy tám giờ sáng đến quán bà là những cô gái Sài Gòn đỏng đảnh, những chàng trai bảnh bao từ trong những hẽm nhỏ đi ra tất bật cho một ngày làm mới vẫn cố gắng ghé quán bà Tư. Họ đến hối hả lấy và mang đi đến công sở những ly café bà Tư pha sẳn trông thật là mát lạnh…..Đó cũng là vốn văn hóa của những người làm công sở nơi đây, dù bận rộn bao nhiêu nhưng mỗi buổi sáng họ luôn muốn tận hưởng cảm giác hương café như vị thực của cuộc đời có cái cảm giác ngọt ngào như ở bên cạnh những người yêu thương, đồng nghiệp đối lập với vị đắng của mùi café như cuộc đời vốn có nhưng họ vẫn quá dỗi bình yên và hạnh phúc.
Từ ngày biết bà Tư, tôi có cảm tưởng gần suốt đời bà lụm khụm với cái phin cafe cho khách (Theo cách pha của người Pháp), chăm bón từng cục than để cái siêu đất luôn luôn nóng bốc khói của café vợt (Theo cách pha của người Hoa, còn gọi là café “kho”, cách này café không đậm đặc nhưng nghi ngút khói, hấp dẫn). Khách của quán bà là những người vậy đến rồi đi thân thương lẫn xa cách. Người đến mua rồi đi hay ở lại ngồi cũng đều gọi :”Cho ly cà phê đen !”, “Cái phê sữa nghe bà Tư!” rồi hỏi bà Tư ….”Nhiêu!”. Người Saigon là vậy nói đơn giản, không màu mè, cả trong cách gọi và trả tiền cà phê. Nhưng không phải cách gọi café nơi đây mà ta phân biệt được khách lạ bởi người nơi đâu đến rồi cũng học cách gọi café như người Saigon chính gốc. Thường khách lạ ít ai chịu uống cà phê phin với họ chỉ thường là cốc café vợt. Có lẽ trước mặt họ cái phin là cảm thấy buồn nản và xa cách mà muốn tận hưởng cái thú cô độc ấy một mình giữa phố xá xôn xao luôn luôn tấp nập

Saigon chật như nem !

Nhớ một lần tôi gọi : “Cho cái đen pha sẳn bà Tư ơi!”. Bà liền hỏi “Bộ chú có chuyện phải đi gấp hả?”. “Không đâu bà Tư ơi, tôi thấy cái ly cà phê của chú Chín đang nghi ngút khói, con muốn như chú!”. Ngồi đối diện với chú Chín, tôi thấy ly Café trước mặt như nóng muốn bỏng cả môi, vậy mà cách uống của chú thật là lôi cuốn, gây chú ý tức thì những người xung quanh. Nhìn chú Chín tôi như bị mê hoặc bởi cách uống, bởi sự trân trọng, bởi nét mãn nguyện trong lúc hưởng chất đen huyền diệu từ bàn tay bà Tư pha chế. Ông uống café gần như một nghi thức, kiểu trà đạo của một nước Châu Á nào đó mà tôi từng thấy nhưng đã quên. Còn dì Năm hàng xóm, tôi thường vẫn đến sớm nơi đây gọi bà Tư với ly café đúng kiểu “café Saigon” (đậm đặc với nhiều đá) pha sẵn với nhiều viên đá nhỏ, ngồi tám chuyện thằng Tý đêm qua đi chơi khuya với thằng Tèo về nhà bà la chửi mắng yêu.
Hai mươi năm rồi tôi ở chốn đây, nhưng đã về Miền Trung, có những lúc nghĩ đến ly Cà phê buổi sáng, tôi vẫn thường nhớ đến quán cũ bà Tư. Ở đó có ông Tám thường ngày đến quán sớm nhất, chọn nơi có ánh đèn dịu nhẹ của một góc khuất, rồi gọi ly Café phin đậm đặc mà bà Tư thường pha cho ông luôn mang hương vị đậm đà, mạnh mẽ mà xúc cảm có khác đâu như “tình già, nghĩa xóm” của ông Tám, bà Tư bấy nay. Có chú Bảy râu tóc phong trần áo bạc nắng mưa, những bà hàng xóm sớm hôm vất vả với mảng đời run rủi, ghé quán không một loại nước ép nào mà cũng với ly café mới chia sẻ đôi câu chuyện đời thường chòm xóm.
Nhớ có lần bà Tư mời tôi uống ly café sầu riêng mà đời tôi chưa bao giờ được uống. Một múi sầu riêng thơm ngon nằm trong ly cà phê nóng ngút. Vừa đặt ly lên bàn bà nói khẻ: “Đừng quậy lên nghe chú. Cứ để vậy uống từng muỗng nhỏ, rồi sẽ thấy sẽ biết!”. Đúng là cái món “café thân thương” của bà Tư có chất “riêng” của mùi sầu riêng quyện với chất cà phê thơm ngát, chỉ cần ngụm một chút một là đã thấy phê…phê. “Ngon vậy nhưng mỗi mùa sầu riêng chú chỉ uống một hai ly thôi, còn không hết ngon nghe chú”. Bà Tư cười hóm hỉnh – “Cũng như cuộc đời cái gì cũng thử một hai lần sẽ ngon đó chú ….. (?)”. Câu nói của bà Tư không biết có sâu xa như người Miền trung quê tôi không, nhưng đã làm tôi nhớ mãi…..
Bà Tư nay đã đi …xa, cái quán nhỏ của bà bây giờ không còn nữa. Con đường vế nhà qua đây tôi bỗng chợt trôi đi hun hút. Hay vừa mới về tôi chưa nhận ra đâu đó mới mọc trong những con hẻm lao động, có những quán cóc quanh đây, vẫn còn đó những “bà Tư” nào ấy vẫn lụm khụm sớm hôm cho ly café Saigon buổi sáng. Hóa ra vài năm “tha hương ngay trên quê quán”, nhưng lần trở về này bà Tư không còn nơi chốn cũ, tôi khao khát vô cùng được thắp cho bà một nén hương và uống một ly café Saigon đâu đây như của bà Tư đó, bà Tư ơi !!!……

Đêm Saigon cuối tháng 5 –  Andi Nguyễn Ánh Nhật.

Advertisements

Cảm nhận Ngày Trở Về – Kỳ cuối

Có nhiều hôm trời chuyển mưa tôi ngồi tỉ mẩn ngắm đàn kiến miệt mài chuyển nhà.Chọc một cái que vô tâm vào đoàn quân đó, chúng chạy tung tóe mỗi con tự vẽ nên một đồ hình kỷ hà khó hiểu trông hoa cả mắt, nhưng chỉ một lát sau, chúng lại tập hợp đâu vào đấy, theo một hướng đi, thuần nhất như thuở ban sơ bản năng hằng dạy, để tìm về chốn bình an.

Tôi tự hỏi có phải vũ trụ sinh ra từ một hỗn độn, để rồi đi đến trật tự hài hòa, hay ngược lại. Những đêm lang thang qua miền ký ức đã rách bươm một lời hẹn cũ, văng vẳng lời buồn người nhạc sĩ năm nào “ một mình đi mãi, trên đường dài không thấy, ai người quen tôi đấy…” như một gã lữ hành cô độc, tiếng gọi quê hương ánh mướt một bến đỗ bình an, nơi đàn kiến nô nức kéo về, dù có xáo trộn đôi chút vì ngoại cảnh. Từ bến sông xưa nơi ngày nào Hữu Dũng rủ tôi nhảy ào xuống tìm một chút cảm giác chông chênh dù chưa biết sau cú nhảy ấy, đời tôi sẽ kết thúc ra sao.Từ con đường Trần Quý Cáp vàng ươm nắng hanh hao những trưa tan học, mắt huyền ai ấm cả trái tim đầu, tôi đã đi theo cùng năm tháng vô định hình, vì mưu sinh, vì muốn chứng tỏ, vì một sự trốn chạy, vì một định kiến vô nghĩa lý. Tôi đã tự vẽ nên đồ hình kỷ hà của mình trong một cái trật tự Brown, đã từng dìm mình trong hơi rượu,khói thuốc, đã từng cố dựng tượng mình trong vàng ánh hoàng hôn sắp tắt. Con đường tôi đi qua, có thể bạn cũng đã đi qua…

Chúng ta đã trở về như một bản năng mời gọi. Có ai đó nói rằng tôi sinh ra và lớn lên ở Tam Kỳ, học hành ở Tam Kỳ và mưu sinh cũng trên đất Tam Kỳ, vậy trở về là về đâu, đi xa mới trở về chứ? Thưa bạn, bất cứ ai trong hành trình miên viễn của cuộc đời vẫn là một gã du hành lang thang bất định, dù bạn có ngồi mãi trong nhà cũng vậy. Bạn có đi sang trời Tây hay trời Đông , có nhọc nhằn hay sang giàu, có quay quắt lo buồn hay ung dung tự tại, bạn vẫn là kẻ phiêu bồng, đi hoài trong vùng vàng úa của vô linh hằng nhiễm.Bạn đã rời xa mái trường đó, có nghĩa là bạn đã làm một cuộc viễn du, ngôi trường đó còn sống hay đã chết trong miền tối sáng của tiềm linh viễn giác của bạn, tùy theo lộ trình của cuộc viễn du đó, tùy tốc độ của chuyến du hành đó. Do vậy, ngày 30/4 vừa qua, mãi mãi là một cuộc trở về.

Chúng ta đã trở về tinh khôi, vẹn nguyên thuở ban đầu, mặc dù màu thời gian đã nhuốm vàng mái tóc, đã hằn sâu nếp nhăn trên gương mặt ai, trên nếp nghĩ ai. Tôi đã thấy niềm vui hiển hiện trên từng ánh mắt cười, những khóe môi dâng lên những lời nghẹn nói. Tôi đã thấy qua  thanh âm cuốn về từ một thuở xa xưa những buồn vui chưa kịp tỏ, những rung cảm đầu đời thuở chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu, những mối tình đơn phương chôn chặt để rồi bùng vỡ trong bộn bề cảm xúc. Chú chim lích chích chuyền cành trên vòm xanh hôm ấy có phải đã vượt qua muôn trùng khoảng cách giữa những tinh cầu băng giá của những thiên hà tối tăm vô cảm để tải về chút nắng ấm đời nhau. Trong những âm thanh rộn ràng của ngày hôm ấy, có phải là những âm thanh hồng sáng của yêu thương, của niềm mê đắm khôn nguôi, của những khắc khoải mong chờ, của những linh cảm về một sợi dây mong manh kết nối vô hình hằng níu giữ, sợ rằng một nhát chém vô tình của thời gian và những thân phận, sẽ mãi mãi lạc loài trong vô tận kiếp phù sinh.

Tôi đã trải qua những cung bậc cảm xúc, từ mong mỏi tới hồ nghi, từ yêu thương đến tự vấn, có phải những ngày tháng vô tình theo cuộc mưu sinh, chúng ta đã để vụt qua đời mình, như những làn sóng điện tan vào khoảng không lạnh lẽo, những phút giây đóng đinh số mệnh, những khoảnh khắc mà nếu như từng nắm bắt, có thể thay đổi cuộc đời ta.

Vậy thay, cần lắm những cuộc trở về, cần lắm những vòng tay ấm nồng, cần lắm những nói cười rộn rã, để ngày mai trên đường đời muôn lối, ta có thể mơ màng về một chốn bình an, nơi ấy, trong bước viễn du của tâm linh mệt mỏi, ta ghé vào uống dòng nước ngọt ngào xoa dịu trái tim khô hạn những cuộc trần ai.

Hẹn gặp lại năm 2016, ơi những trái tim yêu, những chú kiến trong một trật tự kỷ hà mướt xanh hoài cảm của tôi.

Hết.

BQH.

Cảm nhận Ngày Trở Về – Kỳ 14

Một điều Thông Thái liên tục nhắc nhở mình phải viết, hihi, người xưa hẹn nghìn năm yêu mến… của B.N không phải là Huy đâu, người đó đẹp trai lịch lãm hơn Huy nhiều. Chẳng qua ngày trước mình có dịp làm chim xanh cho hai người một thời gian, do đó sau hai chục năm B.N muốn gặp lại xem chim xanh đã lớn chưa hihi, đã chững chạc chưa hihi, và nhân tiện hỏi thăm người ấy ra sao, thế nào hihi .Thế nhé, không có gì nhé, hihi.

Tối mồng 2/5 ở Đà Nẵng, dù đã hẹn với đứa em ghé lại ăn trưa rồi ăn tối, cuối cùng cũng đành lỡ hẹn với nó mà đến café VIP với Hữu Dũng, Quang Tuấn,Mạnh Hùng và các nàng trancaovan1986 như Thúy Vân, Kim Ngọc,Minh Thanh, Ngọc Thạch,Xuân Phượng và tất nhiên là B.N của – người – ta – nha – ông – Thái – Thông .

Lại chuyện trò rôm rả, lại đề ra nghị quyết ít nhất hai tuần chi bộ Đà Nẵng phải gặp nhau một lần.Mạnh Hùng nói đợt này dân Đà Nẵng chuyển hướng về Quận III nhiều quá, chắc trung tâm hội nghị cũng phải chuyển về hướng đó.Mình cười nói, ở đâu cũng được, miễn là có chỗ để ngồi lại với nhau, và phải có tấm lòng để ngồi lại với nhau.Thúy Vân cười nói luôn miệng và gửi cho mình hộp chả cá.Ui da, đem vào Phước Long bà xã mình khen nắc nỏm, điện bảo đứa em ngoài Đà Nẵng khi nào rảnh mua gửi cho chị.Mình cười he he bà thấy chưa, đặc sản quê tui chỉ có thấy thiếu chứ không bao giờ sợ dư.

Trưa hôm sau, Ngọc Thạch và anh Hiền mời cơm mình trước khi bay vào Sài Gòn. Thạch vẫn thế, trầm mặc ít nói nhưng chu đáo cầu toàn, chỉ ngồi san sẻ thức ăn cho mình và Hữu Dũng, à quên, Hữu Dũng lại phóng xe một mạch từ Hòa Cầm ra sau khi tan sở lúc 11h30, chỉ để ngồi ăn bữa trưa tạm biệt Đà Nẵng với mình và gửi quà cho mình cùng các bạn Phước Long.Đúng là gã hiệp khách.

Ngồi trên máy bay rồi, những scene đặc sắc của những ngày qua lại lướt về như những thước phim “ Đi tìm thời gian đã mất”. Các bạn ơi, chúng ta đã có một ngày về thật hoàn hảo, dường như ai ai cũng vội vã, cũng cố gắng làm hết sức mình để ngày trở về được trọn vẹn, được ngồi bên nhau, cùng nói cười, cùng nhớ lại. Hôm đi Phú Ninh có ai đó nói rằng 2012 hội ngộ đẹp rồi, còn không biết 2016 ra sao. Mình nói 2016 có thể đông hơn, vui hơn, nhưng chắc rằng cảm giác nôn nao bồi hồi như 2012 thì không thể bằng.Vì chúng ta đã xa nhau tới 26 năm. Muốn được như 2012 thì phải để 26 năm nữa, tới 2038 đi.Trời ạ, lúc đó có mà ngồi xe lăn. Diệu Hương đề xuất, ông Việt à, hay ông ưu tiên đầu tư nhà dưỡng lão đi, đất nhà ông rộng, ông kêu gọi anh em góp vốn, sau này trancaovan1986 ai già rồi có thể vào đấy, xe lăn đầy đủ, hehe.Và ngày hội ngộ 2038 sẽ là hội ngộ của xe lăn, đua xe lăn hoành tráng.Mình cười hehe, nói lúc đó ông này bà nọ có ghen nhau cũng nỏ làm chi được, rượt nhau trên xe lăn e khó.Diệu Hương nói, chưa chắc, lúc đó ông nào đương thở oxy, tình địch vờ tới thăm, lăn xe lăn đè ngay lên ống oxy thì ặc…ặc.Hehe, cười ngả ngớn mà nước mắt chực trào khi tưởng tượng về vài chục năm sau .

Mình đã cảm nhận dấu thời gian phảng phất trên từng gương mặt thân thương ngày nào. Khen nhau trẻ mãi chỉ là lời khen, hay cùng ngồi trên hai chuyến xe đồng tốc để rồi thấy rằng dường như thời gian đứng lại, chứ mọi sự vẫn trôi đi, qua đi, dù có cố níu kéo cũng vậy.Chúng ta rồi sẽ già, sẽ còn ít có cơ hội để gặp gỡ, để đổi trao, để yêu thương cùng hoài niệm một thời thơ trẻ.

Bước xuống sân bay Tân Sơn Nhất, mình đã nhận được điện thoại của Tấn Binh, hỏi tới chưa, nếu cần thì gọi Khởi ra đón về, tụi tui tới Biên Hòa rồi, ở lại nhậu tiếp.Hehe, nhậu chi nổi nữa mấy ông, về nhậu với vợ cho mau.Mạnh Hùng lại điện, hỏi tới chưa, tới rồi hả, vậy là yên tâm rồi. Trần Việt lại điện, hỏi tới chưa, vậy hả, vậy yên tâm rồi…Nhắn tin cho Ngọc Thạch, nói cảm ơn sự tiếp đãi của gia đình, Thạch nhắn lại, thôi đừng nói nữa, tui khóc nhè bây giờ…
Tối về mở blog lên, thấy Trần Việt comment : “Mấy ông đi hết rồi, tụi tui buồn quá…”.

(Còn tiếp)

BQH.

Ngày về

NGÀY VỀ

Ngày về biển sóng dạt dào.

Mây giăng qua núi thuở nào vẹn nguyên.

Gió nào kết nối tơ duyên.

Tình nào vào cõi mơ tiên phiêu bồng.

Ngày về lúa chín vàng đồng.

Em thương đứng đợi năm mong tháng chờ.

Ngày về tựa bến sông mơ.

Em tôi đưa mắt ngẩn ngơ trăng vàng.

Ngày về đâu phải dở dang.

Cây đa bến cũ chim ngàn nên thơ.

Ngày về giăng kín muôn tơ.

Một mai ai đó trông chờ ngày xa…

         Đức Hùng 12/6

Sóng chiều

SÓNG CHIỀU

Sóng xô bờ cát chiều vàng.
Vi vu thông hát reo ngàn lời ca.
Muôn thu biển vẫn mặn mà.
Người xưa,bến cũ,ngày xa vẫn còn,
Thương chiều chim quốc nỉ non.
Đôi bờ sông cũ chắc mòn một bên.
Trăng khuya biển hát đầu ghềnh.
Thương em trót lỡ…lênh đênh cuộc đời.
Năm xưa buông mảnh trăng rơi.
Ngày về sa cõi chơi vơi trong chiều.
Thầm mong trải ánh trăng liều.
Vườn ai hiu hắt hoang liêu bao ngày.
Thả hồn theo vạt mây bay.
Dòng sông thương nhớ nồng say dâng về.
Yêu ai còn ước hẹn thề.
Còn yêu ai đó mải mê cuộc tình.
Sóng đời rong ruổi chênh vênh.
Chiều xô ngày cũ,sóng tình vào thơ…

Đức Hùng 12/6

Niềm tin và khát vọng

NIỀM TIN VÀ KHÁT VỌNG
(Theo yêu cầu của Gahanquoc, Galangthang phải biến thành Lạc đà. Ừ, thì lạc đà vậy)

Anh như con Lạc Đà
Lạc hướng giữa sa mạc tình yêu

Em là ốc đảo diệu kỳ
Chưa từng ai đến được

Anh cứ bước đi trong hoang tưởng của cuộc đời
Mang theo giấc mơ về một miền nước mát

Em mãi ngóng chờ trong cô quạnh
Mắt mơ màng một dấu chân ai

Anh mãi mang trong người
Một niềm tin thánh thiện

Em giữ trong lòng
Một khát vọng thiên thần cháy bỏng cả con tim

Ôi! Niềm tin và khát vọng diệu kỳ
Bong bóng ước mơ vỡ tan hòa vào hiện thực
Em hiện ra xanh mát cả đất trời
Anh đứng đó trái tim còn hực nóng

Tình yêu bỗng cười giòn nghe rộn rã
Đôi nhịp tim thoáng chốc đã giao hòa
Anh ngập ngừng nắm chật lấy tay em
Ta bước nhẹ vào trong cuộc sống…

Võ Thương

Ký ức học trò

Trưa 28/4/2012, Thông điện thoại báo cho mình phải viết bài cảm nghĩ để phát biểu trong ngày 30/4 – Đột ngột quá! Nhận lời rồi lo không biết mình viết có súc tích không? Đọc có trôi chảy, tình cảm không? Cả hai ngày 28/4 và 29/4 bận tối mày tối mặt, xong việc, tối 29/4 mới lên phòng để tĩnh tâm ngồi một mình và bắt đầu viết. Tự nhiên, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu ký ức, hình ảnh chợt ùa về thật ngọt ngào và dễ thương – Và mình đã khóc, khóc thật nhiều…

Image

Miền quá khứ hiện về từ nơi xa lơ, xa lắc, những người bạn nối khố nhau từ thời còn học cấp 1 vẫn nguyên vẹn trong lớp 2A của Thầy chủ nhiệm Nguyên Sa: Thông, Đức Huy, Quốc Huy, Nam Anh, Anh Thư, Diện, Hiền, Mỹ Hiền, Lệ Hà, Thùy Dung…và cả thằng Thành (lai Mỹ) hay ị trong quần làm cả lớp phải chạy ra ngoài la ơi ới!

Những trò chơi nguy hiểm thời con nít của bọn con trai như nhảy ngựa, đá ngựa… mà con gái tụi mình cũng “phan ngang”, “chơi tuốt”. Đối thủ của bọn mình năm lớp 3, lớp 4 của “môn thể thao” này là “bọn” Kỳ nhông, Tuyết Cận lớp kế bên. Trong một trận “quyết tử”, bọn mình đã “chiến thắng” vẻ vang, kết thúc sợ hãi cả một thời kỳ trong sự “cổ vũ” nhiệt tình của bọn con trai của cả hai lớp! Ghê không?

Lên cấp 2 – thời mơ mộng hái hoa, bắt bướm hiện về. Con đường xóm Bò (xóm chuyên làm thịt bò cung cấp cho cả thị xã Tam Kỳ lúc bấy giờ) là nơi mục kích của tụi mình mỗi trưa đi học về. Những chú bướm vô tội với nhiều màu sắc rực rỡ nằm xẹp ruột trong tập vở của tụi mình đẹp ơi là đẹp! Những lá bồ đề trơ xương được “phù phép” bởi bàn tay của tụi mình với đủ bảy sắc cầu vồng mới đáng yêu làm sao! Ôi ngày xưa! Bây giờ “bói” đâu ra những chú bướm đẹp như ngày xưa để ép vào trang lưu bút mỗi khi rời cấp học, vì đất đã đô thị hóa gần như hết, không còn chỗ cho bướm “bay nhảy”!

Image

Những suy nghĩ ngây ngô rằng lên cấp 2 có thể học theo giờ, có quyền nghỉ những môn mình không thích học!? Thế là cả lớp rủ nhau bỏ giờ đi ăn hàng, đi chơi… Kết quả là “được vinh dự” chào cờ với Ông mặt trời, nhưng rất vui và rất trẻ con các bạn nhỉ?!

Image

Lên cấp 3, những trò chơi trẻ con không còn nữa, những tháng ngày học thi, ôn thi vất vả. Những buổi học chung, ăn chung, ngủ chung với bao kỷ niệm. Những hoài bão, ước mơ của tụi mình lớn dần theo năm tháng. Kết thúc cấp 3, đứa đậu, đứa rớt, kẻ ở, người đi, vui buồn lẫn lộn; những cánh thư đi, về mang biết bao nhiêu nỗi niềm của tụi mình (thư của T. Quang, A. Thư, Tuyết, Dung, Diện, Thu Hà…giờ đây mình vẫn còn giữ nguyên vẹn).

Image

26 năm không phải là quá dài, nhưng cũng đủ để mỗi chúng ta luôn hoài niệm về một thời đi học, về bạn bè, về thầy cô đáng kính. Rồi thời gian cứ trôi, cứ trôi, mỗi chúng ta đã chọn cho mình một con đường riêng. Mỗi bạn, mỗi ngành, mỗi nghề, mỗi hoàn cảnh khác nhau, trong đó, có những bạn giờ đây mãi mãi đi xa, có nhiều bạn còn đang bon chen trên con đường phía trước, nhưng cả thảy chúng ta đều trưởng thành khôn lớn và càng ngày càng quý mến, thương yêu nhau hơn, phải không các bạn?

Vài dòng suy nghĩ tâm sự cùng các bạn về một thời học sinh đã qua, và mình luôn mong rằng mối thành viên trong TCV1986 chúng ta đều:

Mãi mãi dấu yêu thời đi học;

Mãi mãi dấu yêu tình cảm của bạn bè!

Thanh Tân – 12/1.